• 0Items - 0

    My Cart

    Close Shopping Cart
    • Chưa có sản phẩm!

Blog

Đậu nành_Joie 02

Bạn từng tin tưởng vào việc uống sữa đậu nành hoặc sử dụng các chế phẩm sản xuất từ đậu nành. Bạn nghĩ rằng đậu nành là một nguồn thực phẩm chứa protein thực vật tốt cho cơ thể, nhưng có thật sự an toàn như bạn nghĩ?

(Photo: Joseph L. Murphy/Iowa Soybean Association)

Nguồn gốc đậu nành

Cùng với hàng ngàn dược liệu có mặt ở khắp các vùng lãnh thổ Việt Nam, Đậu nành là một trong số những dược liệu quí. Đậu nành thuộc họ cánh bướm. Đây là loại cây thảo, hằng năm, có nguồn gốc ở Trung Quốc rồi từ đó lan ra các nước khác Nhật Bản, Việt Nam, Malaixia, Triều Tiên, có mặt ở châu Âu vào đầu thế kỉ 17. Đậu nành từ lâu đã được biết đến là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao vì chứa hàm lượng protein cao hơn bất kì loại nông sản nào. Không những thế trong Đậu nành còn chứa rất nhiều khoáng chất, các chất sinh tố B đặc biệt là các hoá chất thảo mộc có khả năng ngăn ngừa và trị liệu bệnh tật. Trong những năm gần đây, Đậu nành đã và đang chuyển biến từ thực phẩm thành dược phẩm, là cây thuốc quí được sử dụng trong đông y. 

Có nguồn gốc từ Châu Á, đậu nành thuộc giống cây họ đậu và được xem là một trong những nguồn thức ăn chính trong bữa ăn hằng ngày. Hơn 60% thực phẩm đóng gói hiện nay có nguồn gốc từ đậu nành. Ngoài ra đậu nành còn là một trong những thực phẩm chính của những người ăn chay.

Có lẽ bạn đã biết, sữa đậu nành là bí quyết dưỡng da của phụ nữ Nhật bao đời nay. Ngoài các công dụng về sức khỏe như cải thiện tim mạch, hỗ trợ giảm cân, ngăn ngừa ung thư, sữa đậu nành còn giúp da căng mịn hồng hào. Các acid béo omega-3, omega-6 và genistein có khả năng bảo vệ và ngăn chặn các dấu hiệu lão hóa. Đồng thời, những hợp chất này cũng thúc đẩy quá trình sản sinh collagen. Uống sữa đậu nành mỗi ngày là phương pháp kéo dài tuổi xuân mà vẫn tiết kiệm chi phí.

Thành phần hoá học của đậu nành

Hạt đậu nành chứa 8-10% nước, 5% chất vô cơ, 15- 25% glucose, 15-20% chất béo, 35- 45%  protein với đủ các loại amino acid và khoáng chất cần thiết khác. So với thịt động vật, đậu nành có nhiều chất dinh dưỡng hơn: 100 gr đậu nành có 411 calo; 34 gr đạm; 18 gr béo; 165mg calcium; 11mg sắt; trong khi đó thịt bò loại ngon chỉ có 165 calo, 21gr đạm; 9gr béo; 10mg calcium và 2.7 mg sắt.

Công dụng của đậu nành.

Nhật Bản và Hàn Quốc là 2 quốc gia tiêu thụ tỉ lệ đậu nành nhiều nhất trên thế giới, và cũng là những quốc gia có tỉ lệ dân số mắc các chứng bệnh về tim mạch và các loại bệnh về ung thư thuộc loại thấp hơn các nước phương tây. Trung bình một người tiêu thụ từ 9 – 10 gram đậu nành vào cơ thể. Người ta tìm thấy hợp chất isoflavones, là một loại hợp chất giống estrogen yếu có công thức hoá học gần giống như kích thích tố nữ estrogen. giúp làm chậm quá trình lão hoá buồng trứng, loại bỏ các gốc tự do và các vết nám giúp bổ sung nội tiết tố, cung cấp và cân bằng hàm lượng estrogen giảm sút trong cơ thể, làm cho da thêm săn chắc, đặc biệt ngăn chặn quá trình lão hoá da hiệu quả. Bên cạnh đó, khi da bị lão hoá, lớp da sẽ trở nên mỏng hơn và kém đàn hồi hơn, là kết quả của sự giảm sản sinh collagen và elastin. Isoflavones đậu nành giúp tăng tính đàn hồi lớp collagen, giữ độ ẩm và kéo dài tuổi thọ cho tế bào da.

Làm giảm cholesterol trong máu. Kết quả tổng hợp của 35 cuộc khảo sát cho thấy đậu các thực phẩm có nguồn gốc từ đậu nành làm giảm các Lipoprotein tỷ trọng thấp  (LDL – low density lipoprotein) hay cholesterol “xấu” vì nó tham gia vào sự phát triển các mảng vữa xơ động mạch ở thành của động mạch. Đồng thời làm tăng mật độ của Lipoprotein tỷ trọng cao (HDL — high density lipoprotein) được tạo thành ở gan và ruột non hay cholesterol “tốt” vì chúng bảo vệ thành mạch, không gây vữa xơ động mạch.

Những ý kiến trái chiều về công dụng của đậu nành.

Có rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra được những lợi ích không nhỏ của đậu nành, tuy nhiên cũng có nhiều nghiên cứu lại cho thấy tác hại của việc tiêu thụ đậu nành đối với con người. Vậy đâu là sự thật?

Những ý kiến trái chiều bắt đầu từ một cuộc nghiên cứu của Tạp chí thú y của Úc vào những năm 1940. Người ta đã phát hiện ra đậu nành có chứa hợp chất isoflavones có khả năng ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người. Nghiên cứu cho thấy những con cừu được chăn thả trên đồng cỏ ba lá giàu hợp chất isoflavone gặp vấn đề thụ tinh và sinh sản. Nhiều nhà khoa học hiện nay cũng phát hiện ra khả năng hợp chất isoflavone kích thích đẩy nhanh quá trình gây ung thư vú của bệnh nhân.

Có một thực tế khác là 90% các sản phẩm đậu nành hiện nay được sử dụng trong thực phẩm là đậu nành biến đổi gene GMO. Đây là loại đậu nành mà vật liệu di truyền của chúng được biến đổi theo ý muốn chủ quan của con người nhờ công nghệ sinh học hiện đại. Ngoài ra, cây trồng biến đổi gene vẫn sử dụng thuốc trừ sâu, trừ cỏ, và không phải là giống thuần chủng của địa phương. Một số sản phẩm đậu nành GMO đã được tìm thấy có chứa dư lượng từ glyphosate, một loại thuốc diệt cỏ được sử dụng trên toàn cầu, làm mất tác dụng dinh dưỡng của nó.

Ước tính, mỗi năm Việt Nam nhập khoảng 2 triệu tấn ngô, 4 triệu tấn đậu nành chủ yếu từ Mỹ, Canada, Brazil, những nước chủ yếu sử dụng giống GMO. Với mục đích được báo cáo chính là để làm thức ăn cho vật nuôi, nhưng thực tế nông sản nhập khẩu cũng được sử dụng cho người. Ví dụ, bắp ngô nhập khẩu có mẫu mã đẹp được sử dụng để làm ngô nướng/luộc, bỏng ngô, sữa ngô, bánh gatô, bánh quy, bột nêm, bánh pizza… Đậu nành được sử dụng làm đậu phụ, sữa đậu nành, dầu ăn đậu nành, bột đậu nành, chế phẩm cho các món ăn khác…

Một điều đáng lưu ý là ngô và đậu nành GMO đã được sử dụng làm thức ăn chính cho gia súc và gia cầm như lợn, gà, tôm, cá, kể cả cho bò nuôi lấy thịt và sữa. Đây là các thực phẩm chính trong bữa ăn mỗi gia đình Việt Nam.

Tác hại của đậu nành GMO

Ảnh hưởng xấu đến gan. Trên trang web Tin tức thiên nhiên, nhà di truyền học phân tử Michael Antoniou cho biết đậu nành GMO có thể thay đổi hoạt động của gan ở chuột và thỏ. Theo Antoniou, những phát hiện này cho thấy có thể tổn thương gan và nhiễm độc có liên quan đến việc tiêu thụ đậu nành GMO.

Tăng nguy cơ phản ứng dị ứng. Theo trang web ProQuest, việc kết hợp một gen vào một cây có thể vô tình tạo ra một chất gây dị ứng mới hoặc gây ra phản ứng dị ứng ở những người nhạy cảm cao. Ví dụ, một số trẻ em bị dị ứng trầm trọng với đậu phộng. ProQuest báo cáo rằng vì lý do này, một đề xuất chuyển gen từ hạt quả hạch Brazil sang đậu nành đã bị loại bỏ.

Tử vong trẻ sơ sinh và gây vô sinh. Theo một nghiên cứu được tiến hành tại Viện Hàn lâm Khoa học Nga và Hiệp hội Quốc gia về An ninh gen và được trích dẫn trên Huffington Post, đậu nành GMO có thể liên quan đến tình trạng tử vong ở trẻ sơ sinh và việc làm giảm khả năng thụ thai, thậm chí vô sinh. Trong một nghiên cứu kéo dài hai năm về chuột đồng, nhà sinh vật học Alexey V. Surov và các đồng nghiệp đã phát hiện ra rằng sau ba thế hệ, hầu hết chuột đồng được nuôi bằng đậu nành GMO đều mất khả năng sinh sản. Những chú chuột trong nhóm dùng đậu nành GMO cũng có tỷ lệ tử vong sơ sinh cao hơn.

Nguy hiểm từ khả năng kháng thuốc diệt cỏ. Theo báo cáo Natural News, một nguy cơ khác của đậu nành GMO là kháng thuốc diệt cỏ. Bởi vì đậu nành GMO có khả năng kháng thuốc trừ cỏ glyphosate nên chúng có thể được xử lý bằng các chất diệt cỏ này mà không bị phá hủy.

Tóm lại, đậu nành rất tốt cho con người trong trường hợp chúng ta sử dụng đậu nành hoặc các chế phẩm có nguồn giống thuần chủng của Việt Nam, và không bị biến đổi gene. Joie tin vào việc sống thuận theo tự nhiên, nên luôn cố gắng tìm những sản phẩm có nguồn gốc bản địa để phục vụ khách hàng. Và đó cũng là lý do hiện tại bọn mình vẫn chưa sử dụng đậu nành làm nguyên liệu trong thực đơn của bọn mình.

Tài liệu tham khảo:

[1] Mark Messina , Soy and Health Update: Evaluation of the Clinical and Epidemiologic Literature, xuất bản 24/11/2016

[2] https://www.elle.vn/

[3]  https://thuongtruong.com.vn/

[4] Health Insights, Plo

Close menu